Thất thoát nước sạch là phần nước đã được xử lý và bơm vào mạng nhưng không tới được người dùng hoặc không được ghi nhận để thu tiền; trong ngành gọi chung là nước không mang lại doanh thu. Phần lớn đến từ rò rỉ trên đường ống và mối nối, phần còn lại đến từ đồng hồ đo thiếu, ghi sai, và sử dụng không được phép.
Mỗi khối nước thất thoát là điện năng bơm, hoá chất xử lý và công suất nhà máy bị lãng phí. Với đô thị đang thiếu nước, giảm thất thoát thường là cách rẻ nhất để có thêm nước cho khu vực mới, trước khi tính tới xây thêm nhà máy. Nhà nước đã có chương trình chống thất thoát, thất thu nước sạch qua nhiều giai đoạn. Phần dưới giải thích cơ chế và các biện pháp theo nguyên lý.
Thất thoát gồm những gì
Cách phân loại dưới đây theo khung phổ biến trong ngành cấp nước quốc tế, được nhiều đơn vị ở Việt Nam dùng khi lập kế hoạch.
| Nhóm | Thành phần | Ví dụ |
|---|---|---|
| Thất thoát thực | Rò rỉ trên ống truyền dẫn, ống phân phối | Ống cũ mục, mối nối hở, vỡ ống do áp lực hoặc do thi công đào trúng |
| Thất thoát thực | Rò rỉ, tràn tại bể chứa | Bể chứa nứt, van phao hỏng gây tràn |
| Thất thoát thực | Rò rỉ trên ống dịch vụ trước đồng hồ | Đoạn ống nhỏ từ ống phân phối vào nhà, nhiều mối nối, khó phát hiện |
| Thất thoát biểu kiến | Đồng hồ đo thiếu | Đồng hồ cũ, đồng hồ chọn sai cỡ không đo được dòng nhỏ |
| Thất thoát biểu kiến | Sai sót ghi chỉ số, xử lý dữ liệu | Ghi nhầm, ước tính chỉ số khi không vào được nhà |
| Thất thoát biểu kiến | Sử dụng trái phép | Đấu nối trộm, can thiệp đồng hồ |
| Tiêu thụ hợp lệ không thu tiền | Nước dùng cho chữa cháy, xúc xả mạng | Được tính riêng, không phải thất thoát theo nghĩa hẹp |
Thất thoát thực là nước mất thật; thất thoát biểu kiến là nước vẫn tới người dùng nhưng không được ghi nhận đúng. Hai nhóm cần biện pháp khác nhau.
Vì sao rò rỉ khó phát hiện
Một vụ vỡ ống lớn thì ai cũng thấy: nước phun lên mặt đường, mất nước cả khu. Nhưng phần lớn lượng nước mất lại đến từ hàng nghìn điểm rò nhỏ âm thầm dưới đất. Ở nền đất cát hoặc đất có nhiều lỗ rỗng, nước rò thấm xuống mà không bao giờ lên mặt đất. Một điểm rò nhỏ có thể chảy suốt nhiều tháng, nhiều năm trước khi được phát hiện.
Thời gian rò kéo dài quan trọng hơn kích thước điểm rò. Vụ vỡ lớn được sửa trong vài giờ; điểm rò nhỏ không ai biết chảy liên tục, cộng lại thành lượng nước lớn hơn nhiều. Vì vậy, chiến lược giảm thất thoát tập trung vào việc chủ động đi tìm điểm rò, thay vì chỉ sửa khi có người báo.
Áp lực trong ống càng cao thì lượng nước thoát ra qua cùng một lỗ càng nhiều, và ống càng dễ vỡ thêm. Mạng cấp nước thường chịu áp lực cao nhất vào ban đêm, khi nhu cầu thấp mà máy bơm vẫn chạy. Đó là lúc rò rỉ mạnh nhất, và cũng là lúc các tổ dò rò làm việc vì đường phố yên tĩnh, dễ nghe tiếng nước rò.
Các biện pháp chính để giảm thất thoát
Phân vùng tách mạng. Chia mạng phân phối thành nhiều vùng nhỏ, mỗi vùng có một hoặc vài điểm cấp nước vào được lắp đồng hồ tổng. So lượng nước vào vùng với tổng nước bán cho khách trong vùng, công ty biết vùng nào thất thoát nhiều để ưu tiên dò tìm.
Theo dõi lưu lượng ban đêm. Giữa đêm, nhu cầu thực rất thấp. Nếu lưu lượng vào một vùng lúc đó vẫn cao bất thường, khả năng lớn là vùng đó có rò rỉ.
Quản lý áp lực. Dùng van giảm áp để hạ áp lực vào ban đêm và ở khu vực địa hình thấp, đủ cho nhu cầu mà không thừa. Áp lực ổn định còn giảm tần suất vỡ ống.
Dò tìm chủ động. Dùng thiết bị nghe âm thanh rò, thiết bị tương quan đặt ở hai đầu đoạn ống để định vị điểm rò, khí đánh dấu với ống khó nghe.
Sửa nhanh, sửa đúng. Rút ngắn thời gian từ lúc biết tới lúc sửa xong; dùng vật tư, mối nối đạt chất lượng để không rò lại.
Thay ống cũ có kế hoạch. Ưu tiên đoạn ống hay vỡ, vật liệu cũ, đi qua khu thường thi công.
Quản lý đồng hồ. Kiểm định, thay đồng hồ theo chu kỳ, chọn đúng cỡ theo lưu lượng thực, dùng đồng hồ đọc từ xa ở khu vực khó tiếp cận.
Thất thoát và các công trình khác cùng nằm dưới lòng đường
Một nguyên nhân vỡ ống hay gặp ở đô thị là thi công của ngành khác: đào hè lắp cáp, làm cống thoát nước, khoan cọc nhà dân, máy xúc của công trình giao thông. Đường ống cấp nước, cáp điện, cáp viễn thông, cống thoát nước cùng nằm chen nhau dưới hè phố, nhiều đoạn không có bản vẽ hoàn công chính xác.
Cơ sở dữ liệu hạ tầng ngầm dùng chung và tuy-nen, hào kỹ thuật là hướng giải quyết dài hạn: biết chính xác ống nằm ở đâu thì đào không trúng; đặt ống trong hào kỹ thuật thì sửa chữa không phải đào đường. Ở các khu đô thị mới, hào kỹ thuật được làm ngay từ đầu dễ hơn nhiều so với cải tạo phố cũ.
Với chủ công trình xây dựng ở đô thị, trước khi đào móng, khoan cọc, nên hỏi đơn vị cấp nước và các đơn vị quản lý hạ tầng khác về vị trí đường ống. Làm vỡ ống truyền dẫn cỡ lớn không chỉ phải bồi thường mà còn làm mất nước cả một khu vực rộng.
Một chương trình giảm thất thoát thường đi theo trình tự
Trình tự dưới đây mô tả cách một đơn vị cấp nước tiếp cận bài toán; nó cũng giúp chủ đầu tư khu đô thị, khu công nghiệp tự quản lý mạng nội bộ của mình.
- Lập bản đồ mạng ống số hoá: vị trí, vật liệu, đường kính, năm lắp đặt, lịch sử sự cố.
- Lắp đồng hồ tổng ở các điểm cấp vào, chia mạng thành vùng có ranh giới rõ, đóng các van liên thông không cần thiết.
- Đo lưu lượng vào vùng liên tục, tính lượng thất thoát và lưu lượng ban đêm của từng vùng.
- Xếp hạng vùng theo mức thất thoát, đưa tổ dò rò vào vùng xấu nhất trước.
- Lắp van giảm áp ở vùng có áp lực dư, theo dõi số vụ vỡ ống trước và sau.
- Thay đồng hồ khách hàng cũ, kiểm các đồng hồ có chỉ số bất thường.
- Lập kế hoạch thay ống nhiều năm dựa trên dữ liệu sự cố, không thay tràn lan.
Kết quả của mỗi bước được đo bằng số liệu vùng trước và sau, không dựa vào cảm nhận. Đây cũng là cách đo hiệu quả của khoản đầu tư.
Người dùng và chủ toà nhà có thể giúp gì
Rò rỉ phía sau đồng hồ, trong nhà hay trong khuôn viên toà nhà, không tính vào thất thoát của đơn vị cấp nước nhưng là nước mất thật và người dùng trả tiền. Cách kiểm đơn giản: khoá hết vòi trong nhà, nhìn đồng hồ; nếu đồng hồ vẫn quay, có rò rỉ phía sau. Bồn cầu rò qua van xả, van phao bể chứa hỏng gây tràn là những nguyên nhân hay gặp.
Khi thấy nước rỉ lên mặt đường, vỉa hè ẩm bất thường dù trời không mưa, ổ gà có nước trong, nên báo cho đơn vị cấp nước qua kênh tiếp nhận chính thức. Thông tin từ người dân giúp rút ngắn thời gian phát hiện, nhất là với rò rỉ ở ống dịch vụ.
Với chủ đầu tư khu đô thị, khu công nghiệp có mạng nội bộ, các nguyên tắc trên áp dụng y hệt ở quy mô nhỏ: đồng hồ tổng ở cổng vào, đồng hồ từng lô, so sánh định kỳ. Chênh lệch lớn giữa đồng hồ tổng và tổng đồng hồ lô là dấu hiệu rò rỉ trong mạng nội khu mà chủ đầu tư phải chịu.
Vật liệu ống và tuổi của mạng
Mạng cấp nước ở các đô thị Việt Nam là một tập hợp nhiều thế hệ ống: ống gang cũ từ nhiều chục năm trước ở khu phố cổ, ống thép tráng kẽm, ống nhựa các loại, ống gang dẻo cho tuyến lớn. Mỗi loại có điểm yếu riêng. Ống thép mạ kẽm cũ dễ gỉ, đóng cặn làm nước vàng và thu hẹp lòng ống; ống nhựa đời đầu chất lượng không đều dễ nứt khi chịu tải trọng xe; mối nối của ống gang cũ dễ hở khi nền đất lún.
Tuổi ống không phải tiêu chí duy nhất để thay. Một đoạn ống cũ nằm ở nền đất ổn định có thể vẫn tốt, trong khi đoạn ống mới hơn đặt dưới đường nhiều xe tải nặng lại vỡ liên tục. Vì vậy, đơn vị cấp nước có dữ liệu sự cố theo từng đoạn sẽ ưu tiên thay đúng chỗ hơn đơn vị chỉ dựa vào năm lắp đặt.
Khi thay ống, công nghệ không đào hoặc ít đào, như luồn ống mới vào trong ống cũ, giúp giảm đào đường ở phố đông. Với khu đô thị mới, chọn vật liệu tốt và giám sát thi công mối nối kỹ ngay từ đầu rẻ hơn nhiều so với sửa rò rỉ suốt mấy chục năm sau.
Vì sao thất thoát không về được con số không
Ngay cả mạng ống tốt nhất cũng có một lượng rò rỉ nền rất nhỏ, khó phát hiện bằng thiết bị hiện có và tốn kém để tìm. Giảm thất thoát có chi phí: dò tìm, sửa chữa, thay ống, thay đồng hồ đều tốn tiền và nhân lực. Tới một mức nào đó, chi phí để giảm thêm một khối nước thất thoát lớn hơn giá trị của khối nước đó.
Ngành cấp nước gọi đó là mức thất thoát kinh tế: mức mà tại đó tổng chi phí cho nước bị mất và chi phí chống thất thoát là thấp nhất. Mức này khác nhau giữa các đô thị, tuỳ chi phí sản xuất nước, giá trị của nguồn nước và tình trạng mạng. Ở nơi nguồn nước khan hiếm, mỗi khối nước tiết kiệm được có giá trị cao, nên đáng đầu tư mạnh hơn.
Khi đọc tỷ lệ thất thoát của một đô thị, nên hỏi tỷ lệ đó tính trên cơ sở nào, gồm những thành phần gì, và xu hướng qua các năm. Một con số duy nhất không nói được nhiều; sự thay đổi qua thời gian và cách đo mới cho biết đơn vị cấp nước có đang làm tốt hay không.
Câu hỏi thường gặp
Nước thất thoát có bị tính vào hoá đơn của người dùng không?
Thất thoát trên mạng của đơn vị cấp nước không ghi riêng trên hoá đơn từng hộ, nhưng là một phần chi phí của hệ thống. Rò rỉ sau đồng hồ trong nhà thì người dùng trả tiền vì nước đã đi qua đồng hồ.
Vì sao các tổ dò rò hay làm việc ban đêm?
Ban đêm đường phố yên tĩnh, dễ nghe tiếng nước rò bằng thiết bị âm thanh, và áp lực trong ống thường cao hơn nên rò rỉ mạnh hơn, dễ phát hiện. Lưu lượng ban đêm cũng là chỉ số để biết vùng nào có rò rỉ.
Phân vùng tách mạng có làm nước yếu đi không?
Nếu thiết kế đúng thì không. Mỗi vùng vẫn được cấp đủ qua các điểm cấp vào có đồng hồ. Khi chia vùng, đơn vị cấp nước tính lại áp lực để khu cuối vùng không bị thiếu nước vào giờ cao điểm.
Giảm áp lực ban đêm có ảnh hưởng tới người dùng không?
Áp lực được giảm tới mức vẫn đủ cho nhu cầu ban đêm. Nhà cao tầng thường dùng bể chứa và máy bơm riêng nên ít bị ảnh hưởng. Lợi ích là giảm rò rỉ và giảm số vụ vỡ ống.
Thấy nước rỉ lên mặt đường thì báo ai?
Báo cho đơn vị cấp nước phụ trách khu vực qua kênh tiếp nhận chính thức ghi trên hoá đơn tiền nước, hoặc báo chính quyền xã, phường. Ghi rõ vị trí, chụp ảnh nếu được.
Khu công nghiệp có tự quản lý thất thoát nước không?
Mạng cấp nước nội khu do chủ đầu tư hạ tầng hoặc đơn vị được giao quản lý. Họ cần đồng hồ tổng và đồng hồ từng lô để so sánh; chênh lệch lớn là dấu hiệu rò rỉ trong mạng nội khu.