Vào mùa khô, khi lưu lượng sông Mê Kông giảm và triều biển mạnh, nước mặn lấn sâu vào các nhánh sông ở Đồng bằng sông Cửu Long; nhà máy nước lấy nước sông có thể phải ngừng bơm khi độ mặn vượt ngưỡng xử lý. Hạ tầng giữ nước ngọt gồm nhiều lớp: hồ chứa nước thô để trữ khi sông còn ngọt, hệ thống cống ngăn mặn trên kênh rạch, liên kết mạng cấp nước giữa các nhà máy và vùng, cùng các giải pháp trữ nước tại chỗ cho hộ dân và cơ sở sản xuất.
Theo thông tin công bố, các mùa khô 2015–2016 và 2019–2020 là những đợt xâm nhập mặn nghiêm trọng, nhiều địa phương phải công bố tình trạng thiên tai. Từ đó, đầu tư hạ tầng chống hạn mặn được đẩy mạnh. Phần dưới nhìn bài toán từ góc hạ tầng cấp nước; phần khoa học về sụt lún, phù sa và bản tin độ mặn đã có ở các trang chuyên về khoa học và thời tiết.
Vì sao nhà máy nước ở miền Tây dễ bị mặn uy hiếp
Nhiều nhà máy nước ở Đồng bằng sông Cửu Long lấy nước trực tiếp từ sông Tiền, sông Hậu và các nhánh lớn, vì nước dưới đất ở vùng này thường nhiễm mặn, nhiễm phèn hoặc nằm ở tầng sâu đang bị khai thác quá mức. Công nghệ xử lý thông thường của nhà máy nước, gồm keo tụ, lắng, lọc, khử trùng, không loại được muối. Khi độ mặn nước thô vượt ngưỡng, nước ra khỏi nhà máy cũng mặn.
Ngưỡng mặn ở cửa lấy nước thay đổi theo giờ, theo con nước. Lúc triều lên, mặn lấn vào; lúc triều xuống, nước ngọt từ thượng nguồn đẩy mặn ra. Nhà máy có thể chỉ bơm vào khung giờ nước ngọt, nhưng khi mùa khô gay gắt, khung giờ đó ngắn lại, có ngày không còn.
Các nhà máy ở gần biển, như ở Cà Mau, An Giang phía vùng ven biển Tây, Vĩnh Long phía ven biển Đông, chịu ảnh hưởng sớm và dài hơn các nhà máy ở thượng nguồn như khu vực Đồng Tháp, Cần Thơ. Sau hợp nhất tỉnh năm 2025, nhiều tỉnh mới trải dài từ vùng ngọt tới vùng mặn, nên bài toán điều phối nước trong cùng một tỉnh cũng thay đổi.
Các lớp hạ tầng giữ nước ngọt
Hồ chứa nước thô. Trữ nước sông lúc còn ngọt để nhà máy dùng trong những ngày sông bị mặn. Dung tích hồ quyết định chịu được bao nhiêu ngày. Hồ cần đất, chống thấm, chống bốc hơi và bảo vệ chất lượng nước.
Dời cửa lấy nước lên thượng nguồn. Xây tuyến ống nước thô từ điểm xa biển hơn về nhà máy. Tốn vốn nhưng giải quyết từ gốc với các nhà máy gần biển.
Cống ngăn mặn, giữ ngọt. Các cống trên kênh rạch đóng khi triều mang mặn vào, mở khi nước ngọt để lấy nước và tiêu úng. Hệ thống cống lớn kiểm soát mặn cho cả vùng rộng.
Liên kết mạng cấp nước. Nối mạng giữa các nhà máy ở vùng ngọt và vùng mặn, để vùng ngọt bù cho vùng mặn khi cần. Đòi hỏi tuyến truyền dẫn dài và cơ chế phối hợp giữa các đơn vị cấp nước.
Xử lý khử mặn. Công nghệ màng thẩm thấu ngược loại được muối, dùng ở quy mô nhỏ, trạm khẩn cấp, cơ sở có nhu cầu đặc biệt. Chi phí điện năng và xử lý nước đậm đặc cao.
Trữ nước tại chỗ. Bồn, lu, ao trữ nước của hộ dân, bể chứa của cơ sở sản xuất, trường học, trạm y tế. Lớp cuối cùng nhưng quan trọng khi các lớp trên không đủ.
Cống ngăn mặn: lợi ích và mặt trái
Hệ thống cống lớn ở vùng bán đảo Cà Mau và ven biển được đầu tư để kiểm soát mặn cho vùng sản xuất nông nghiệp và giữ nước ngọt cho sinh hoạt. Khi vận hành đúng, cống giúp vùng phía trong giữ được nước ngọt lâu hơn trong mùa khô.
Nhưng cống cũng thay đổi dòng chảy, ảnh hưởng giao thông thuỷ, chất lượng nước trong vùng kín và các mô hình sản xuất dựa vào nước lợ như nuôi tôm. Vùng phía trong cống cần nước ngọt cho lúa, vùng phía ngoài cần nước lợ cho tôm; lịch đóng mở cống phải cân nhiều lợi ích. Ở đây, hạ tầng không chỉ là công trình bê tông mà là cả quy trình vận hành có sự tham gia của người dân.
Xu hướng quy hoạch vùng gần đây chuyển từ "ngăn mặn bằng mọi giá" sang thích ứng: sống chung với nước lợ ở vùng ven biển, giữ ngọt ở vùng có điều kiện, chuyển đổi cơ cấu sản xuất phù hợp. Hạ tầng cấp nước sinh hoạt cần đi theo định hướng đó, tách bạch nguồn nước sinh hoạt với nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp.
So sánh các giải pháp cấp nước khi mặn
Bảng so theo nguyên lý; lựa chọn phụ thuộc vị trí, quy mô và nguồn vốn.
| Giải pháp | Quy mô phù hợp | Điểm mạnh | Điểm yếu |
|---|---|---|---|
| Hồ chứa nước thô | Nhà máy nước đô thị, vùng | Chủ động nhiều ngày | Tốn đất, phải bảo vệ chất lượng nước |
| Dời cửa lấy nước | Nhà máy gần biển | Giải quyết từ gốc | Vốn lớn, tuyến ống dài |
| Liên kết mạng liên vùng | Nhiều nhà máy, nhiều tỉnh | Dùng chung nguồn ngọt | Cần cơ chế phối hợp, tuyến truyền dẫn |
| Khử mặn bằng màng | Trạm nhỏ, khẩn cấp, cơ sở đặc biệt | Lắp nhanh, độc lập nguồn | Tốn điện, nước đậm đặc phải xử lý |
| Trữ nước hộ gia đình | Hộ dân, trường, trạm y tế | Rẻ, phân tán | Dung tích nhỏ, phải giữ vệ sinh |
Không giải pháp nào đủ một mình. Một địa phương chống mặn tốt thường kết hợp nhiều lớp và có kế hoạch điều phối rõ ràng trước mùa khô.
Nhà máy và khu công nghiệp ở vùng có nguy cơ mặn
Với doanh nghiệp đặt nhà máy ở Đồng bằng sông Cửu Long, như chế biến thuỷ sản, nông sản, thức ăn chăn nuôi, nước là đầu vào sống còn. Khi khảo sát địa điểm, câu hỏi cần thêm vào là: khu công nghiệp lấy nước từ đâu, nguồn đó có bị mặn trong các mùa khô gần đây không, khu có hồ chứa hay nguồn dự phòng không, độ mặn nước cấp theo tháng ra sao.
Nhà máy có thể tự tăng khả năng chống chịu bằng bể chứa lớn hơn mức thông thường, trữ đầy trước mùa khô; hệ xử lý nước công nghệ đủ biên với độ mặn tăng; giảm nhu cầu nước bằng tuần hoàn và tái sử dụng. Với một số ngành, trang bị hệ khử mặn quy mô nhỏ cho phần nước quan trọng nhất là phương án dự phòng đáng cân nhắc.
Ví dụ giả định: một nhà máy chế biến trái cây ở vùng ven biển ghi nhận hai mùa khô liên tiếp nước cấp có độ mặn tăng, ảnh hưởng tới nồi hơi. Nhà máy bổ sung hệ làm mềm và khử mặn nhỏ cho riêng nước nồi hơi, tăng dung tích bể chứa, thay vì đầu tư khử mặn cho toàn bộ nhu cầu nước.
Hộ dân vùng mặn: hạ tầng nhỏ nhưng thiết yếu
Ở nông thôn vùng ven biển, nhiều hộ chưa có nước máy, hoặc có nhưng trạm cấp nước xã cũng bị mặn. Trữ nước mưa trong lu, bồn, bể là tập quán lâu đời và vẫn là lớp phòng thủ cuối. Các chương trình hỗ trợ bồn trữ nước, trạm khử mặn nhỏ cho cụm dân cư, xe chở nước ngọt trong cao điểm là các giải pháp tình thế được dùng trong các mùa mặn gay gắt, theo thông tin công bố.
Về lâu dài, mở rộng mạng cấp nước từ các nhà máy lớn có nguồn ổn định về vùng nông thôn ven biển là hướng bền vững hơn, nhưng cần vốn lớn cho tuyến truyền dẫn và mạng phân phối ở vùng dân cư thưa. Đây là nơi hợp tác giữa ngân sách, doanh nghiệp cấp nước và các nguồn vốn ưu đãi đóng góp nhiều.
Người dân nên theo dõi bản tin độ mặn của cơ quan khí tượng thuỷ văn và thông báo của đơn vị cấp nước, trữ nước sớm khi có dự báo, giữ vệ sinh dụng cụ trữ nước để tránh muỗi và nhiễm bẩn.
Điều phối trước mùa khô: phần mềm của hạ tầng
Công trình chỉ phát huy tác dụng khi được vận hành theo một kế hoạch chung. Trước mỗi mùa khô, cơ quan khí tượng thuỷ văn và cơ quan quản lý thuỷ lợi đưa ra dự báo về lưu lượng sông, mức độ xâm nhập mặn; chính quyền các tỉnh xây dựng phương án: thời điểm tích nước vào hồ, lịch đóng mở cống, khu vực ưu tiên cấp nước sinh hoạt, phương án chở nước khẩn cấp.
Đơn vị cấp nước cần chủ động theo dõi độ mặn tại cửa lấy nước theo giờ, có thiết bị đo tự động, và quy tắc rõ khi nào ngừng bơm, khi nào chuyển sang hồ chứa, khi nào thông báo cho khách hàng. Thông báo sớm giúp hộ dân, nhà máy kịp trữ nước, tránh tình trạng mọi người cùng trữ một lúc làm áp lực mạng sụt mạnh.
Sau mỗi mùa khô, rút kinh nghiệm bằng số liệu: bao nhiêu ngày phải ngừng bơm, hồ chứa đủ hay thiếu, khu vực nào bị ảnh hưởng nhiều nhất. Những số liệu này là căn cứ để quyết định đầu tư tiếp vào lớp hạ tầng nào, thay vì dàn trải.
Đọc tin về công trình chống hạn mặn
Tin về công trình chống hạn mặn thường nêu tên công trình, quy mô, vốn và diện tích hưởng lợi. Để hiểu đúng, nên phân biệt công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp với công trình cấp nước sinh hoạt: một cống ngăn mặn lớn giúp vùng lúa giữ ngọt, nhưng nước sinh hoạt của thị trấn gần đó vẫn phụ thuộc vào nhà máy nước và nguồn lấy nước của nó.
Cũng nên hỏi về vận hành: ai vận hành cống, lịch đóng mở do ai quyết định, có lấy ý kiến người dân các vùng hưởng lợi và bị ảnh hưởng không. Công trình lớn mà quy trình vận hành không rõ dễ gây mâu thuẫn giữa các nhóm sử dụng nước.
Số liệu về vốn, diện tích hưởng lợi, mốc hoàn thành nên được đối chiếu với thông tin công bố chính thức của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, chính quyền tỉnh, kèm thời điểm công bố, vì các dự án loại này thường được điều chỉnh và phân kỳ.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao nhà máy nước không lọc được nước mặn?
Công nghệ xử lý thông thường gồm keo tụ, lắng, lọc, khử trùng chỉ loại được cặn và vi sinh, không loại được muối hoà tan. Muốn khử mặn cần công nghệ màng thẩm thấu ngược hoặc tương tự, tốn điện và chi phí cao hơn nhiều.
Hồ chứa nước thô giúp được bao lâu?
Tuỳ dung tích hồ so với nhu cầu của nhà máy. Hồ được tính để trữ đủ cho số ngày nguồn sông bị mặn liên tục trong các mùa khô gay gắt đã ghi nhận, cộng thêm biên an toàn.
Cống ngăn mặn có ảnh hưởng tới người nuôi tôm không?
Có thể. Vùng nuôi tôm cần nước lợ, trong khi vùng trồng lúa cần nước ngọt. Lịch đóng mở cống phải cân bằng lợi ích các vùng, nên cần quy trình vận hành rõ ràng và có sự tham gia của người dân.
Nhà máy ở miền Tây nên chuẩn bị gì cho mùa mặn?
Hỏi rõ nguồn nước của khu và lịch sử độ mặn, tăng dung tích bể chứa, trữ đầy trước mùa khô, giảm nhu cầu nước bằng tuần hoàn, và cân nhắc khử mặn quy mô nhỏ cho phần nước quan trọng nhất.
Nước mưa trữ trong lu có an toàn để uống không?
Nước mưa hứng sạch, trữ trong dụng cụ có nắp, vệ sinh định kỳ là nguồn nước quen thuộc ở vùng mặn. Nên đun sôi trước khi uống, bỏ nước đầu trận mưa, và không hứng từ mái có vật liệu không phù hợp.
Có nên khoan giếng sâu để tránh mặn không?
Nước dưới đất ở Đồng bằng sông Cửu Long đang bị khai thác quá mức, mực nước hạ và gây sụt lún. Khoan giếng mới bị hạn chế ở nhiều nơi và phải theo quy định của Luật Tài nguyên nước 2023. Hỏi chính quyền xã về nguồn nước an toàn trước khi khoan.