Hạ tầng tiếp cận là những yếu tố giúp người khuyết tật, người cao tuổi, người đẩy xe nôi, người mang vác nặng sử dụng được công trình và không gian công cộng một cách độc lập: lối đi bằng phẳng không bậc, đường dốc vừa phải, cửa đủ rộng, thang máy, nhà vệ sinh có tay vịn, dải dẫn hướng cho người khiếm thị, chỗ đỗ xe gần lối vào. Luật Người khuyết tật 2010 yêu cầu công trình công cộng bảo đảm điều kiện tiếp cận, và có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia riêng về xây dựng công trình bảo đảm người khuyết tật tiếp cận sử dụng.
Bài này giải thích những hạng mục chính của hạ tầng tiếp cận, những lỗi hay gặp khiến công trình "có đường dốc mà không dùng được", và cách người dân, người làm quản lý kiểm tra, góp ý. Các thông số kỹ thuật cụ thể như độ dốc, chiều rộng nằm trong quy chuẩn hiện hành; bài không nêu con số để tránh sai lệch khi quy chuẩn được sửa đổi.
Ai cần hạ tầng tiếp cận: nhiều hơn ta nghĩ
Khi nói tới hạ tầng tiếp cận, nhiều người nghĩ ngay tới người đi xe lăn. Thực tế nhóm hưởng lợi rộng hơn nhiều: người khiếm thị, khiếm thính; người cao tuổi đi lại chậm, khó lên bậc cao; người đang bị thương phải chống nạng; phụ nữ mang thai; cha mẹ đẩy xe nôi; người giao hàng kéo xe đẩy; người kéo vali ở nhà ga, sân bay.
Dân số Việt Nam đang già đi; tỷ lệ người cao tuổi tăng nghĩa là số người gặp khó khăn với bậc thang, lối đi gồ ghề, nhà vệ sinh không tay vịn cũng tăng. Một công trình thiết kế tốt cho người khuyết tật gần như luôn tốt hơn cho mọi người. Đó là lý do khái niệm thiết kế không rào cản, thiết kế cho mọi người được dùng phổ biến trong kiến trúc hiện nay.
Ngược lại, rào cản trong hạ tầng làm người khuyết tật, người cao tuổi phụ thuộc vào người khác cho những việc đơn giản: đi khám bệnh, làm thủ tục, đi chợ, đi học. Hạ tầng tiếp cận vì vậy không phải là "tiện ích thêm" mà là điều kiện để họ tham gia đời sống xã hội như mọi người.
Các hạng mục chính và lỗi hay gặp
Bảng dưới liệt kê theo nguyên lý; thông số cụ thể tra quy chuẩn kỹ thuật quốc gia hiện hành về công trình bảo đảm người khuyết tật tiếp cận sử dụng.
| Hạng mục | Mục đích | Lỗi hay gặp |
|---|---|---|
| Lối vào không bậc hoặc đường dốc | Xe lăn, xe đẩy vào được công trình | Dốc quá đứng, không có chiếu nghỉ, không tay vịn, cuối dốc là bậc cửa |
| Cửa và hành lang | Đủ rộng để xe lăn đi qua, quay đầu | Cửa hẹp, cửa nặng, có ngưỡng cửa cao |
| Thang máy | Lên tầng không qua cầu thang | Buồng hẹp, nút bấm cao, không có âm báo tầng, khoá thang ngoài giờ |
| Nhà vệ sinh tiếp cận | Người khuyết tật, người cao tuổi dùng độc lập | Bị dùng làm kho, cửa mở vào trong, thiếu tay vịn, sàn trơn |
| Dải dẫn hướng, dải cảnh báo | Người khiếm thị đi theo, nhận biết điểm nguy hiểm | Dẫn vào cột điện, gốc cây, bị xe máy đỗ đè |
| Chỗ đỗ xe dành riêng | Gần lối vào cho người khuyết tật | Không có, hoặc bị xe khác chiếm |
| Quầy giao dịch | Người ngồi xe lăn giao dịch được | Quầy quá cao, không có phần hạ thấp |
Điểm chung của các lỗi: hạng mục có mặt trên bản vẽ, có khi có mặt ngoài thực tế, nhưng không dùng được. Kiểm tra hạ tầng tiếp cận phải là kiểm tra bằng cách dùng thử, không chỉ đếm hạng mục.
Vỉa hè và không gian đô thị: nơi rào cản nhiều nhất
Vỉa hè bị chiếm dụng. Xe máy đỗ, hàng quán bày bán, bậc tam cấp nhà dân lấn ra vỉa hè buộc người đi xe lăn, người khiếm thị, người già phải đi xuống lòng đường. Đây là rào cản phổ biến nhất ở đô thị Việt Nam và không cần quy chuẩn mới mà cần quản lý trật tự đô thị.
Vỉa hè cao thấp không đều. Mỗi nhà làm một cao độ, dốc xe ra vào cắt ngang lối đi, vỉa hè gồ ghề, gạch vỡ. Đi bộ đã khó, đẩy xe lăn gần như không thể.
Điểm qua đường thiếu dốc hạ. Tại nơi qua đường, vỉa hè cần được hạ dốc xuống bằng mặt đường. Nhiều nơi có vạch kẻ đường nhưng bó vỉa vẫn cao, xe lăn không xuống được.
Cầu vượt bộ hành chỉ có cầu thang. Cầu vượt không có thang máy hoặc đường dốc loại trừ người khuyết tật, người già khỏi tuyến qua đường an toàn duy nhất. Giải pháp thay thế là đèn tín hiệu cho người đi bộ có âm thanh và thời gian đủ dài.
Phương tiện công cộng. Xe buýt sàn thấp, nhà chờ có chỗ cho xe lăn, ga tàu có thang máy, thông báo bằng cả âm thanh và hình ảnh là phần nối hạ tầng tiếp cận giữa các công trình.
Vì sao công trình mới vẫn làm sai
Lý do đầu tiên là coi hạ tầng tiếp cận là hạng mục phụ, làm cho đủ thủ tục. Đường dốc được thêm vào bản vẽ ở giai đoạn cuối, chỗ nào còn trống thì đặt, không tính tới lối đi thực tế của người dùng. Khi thi công, sai số nhỏ về cao độ làm dốc dựng đứng hoặc cuối dốc vẫn còn một bậc.
Lý do thứ hai là khâu nghiệm thu không có người dùng thật. Người kiểm tra đi bộ qua, thấy đường dốc có mặt, ký biên bản. Nếu một người đi xe lăn thử đi từ cổng tới quầy giao dịch rồi tới nhà vệ sinh, hầu hết lỗi sẽ lộ ra trong vài phút.
Lý do thứ ba là vận hành. Nhà vệ sinh tiếp cận bị khoá hoặc dùng làm kho, thang máy chỉ mở cho nhân viên, chỗ đỗ xe dành riêng bị chiếm. Công trình đạt chuẩn khi bàn giao nhưng mất chuẩn trong vận hành hằng ngày. Đây là phần cần quy chế quản lý của chính cơ quan, đơn vị sử dụng công trình.
Nơi làm việc và nhà máy: hạ tầng tiếp cận để tuyển được người
Hạ tầng tiếp cận không chỉ là chuyện của công trình công cộng. Doanh nghiệp muốn tuyển người khuyết tật, giữ lại người lao động bị tai nạn sau khi hồi phục, hay đơn giản là có nhiều lao động lớn tuổi, đều cần nơi làm việc mà họ đi lại được: lối vào không bậc, nhà vệ sinh tiếp cận ở gần khu làm việc, chỗ đỗ xe gần cửa, căng tin và phòng thay đồ không phải leo cầu thang.
Với nhà xưởng xây mới, thêm các hạng mục này từ bản vẽ đầu tiên tốn rất ít so với tổng chi phí. Với nhà xưởng đang chạy, cải tạo có thể làm từng bước, ưu tiên khu vực có người cần dùng. Một số vị trí như kiểm tra chất lượng, đóng gói, văn phòng, kho có máy tính phù hợp với nhiều dạng khuyết tật nếu lối đi và chỗ làm được bố trí hợp lý.
Bộ luật Lao động 2019 và Luật Người khuyết tật 2010 có các quy định về lao động là người khuyết tật và trách nhiệm của người sử dụng lao động về điều kiện làm việc; chi tiết nên tra văn bản hiện hành. Ngoài nghĩa vụ, nơi làm việc không rào cản giúp doanh nghiệp mở rộng nguồn tuyển dụng trong bối cảnh lao động ở nhiều khu công nghiệp ngày càng khó tìm.
Tự kiểm một công trình công cộng trong 15 phút
Người dân, tổ chức của người khuyết tật, người cao tuổi có thể tự kiểm một trụ sở, trạm y tế, trường học, nhà văn hoá theo trình tự đơn giản sau, tốt nhất có một người dùng xe lăn hoặc người khiếm thị cùng tham gia:
- Từ điểm xuống xe hoặc bãi đỗ gần nhất, đi tới cửa chính: có bậc không, có đường dốc không, đường dốc có dễ đi không.
- Qua cửa chính: cửa có đủ rộng, có ngưỡng không, mở có nặng không.
- Tới nơi giao dịch chính: quầy có phần thấp không, có chỗ ngồi chờ không, thông báo gọi số có cả âm thanh và hình ảnh không.
- Lên tầng nếu có dịch vụ ở tầng trên: có thang máy không, thang có hoạt động, nút bấm có vừa tầm không.
- Tìm nhà vệ sinh tiếp cận: có không, có mở không, có tay vịn, cửa có mở ra ngoài, xe lăn có quay đầu được không.
- Ghi lại từng điểm vướng kèm ảnh chụp, vị trí, rồi gửi cho đơn vị quản lý công trình và chính quyền xã, phường.
Một danh sách cụ thể, có ảnh, theo đúng thứ tự người dùng đi qua công trình, thường dễ được tiếp thu và sửa hơn một kiến nghị chung "công trình chưa thân thiện với người khuyết tật".
Cải tạo công trình cũ: bắt đầu từ đâu
Phần lớn công trình công cộng hiện có được xây khi yêu cầu tiếp cận chưa được chú trọng. Cải tạo toàn bộ cùng lúc là không khả thi về kinh phí, nên cần ưu tiên. Thứ tự hợp lý là bắt đầu từ công trình người khuyết tật, người cao tuổi phải tới thường xuyên: trạm y tế, bệnh viện, điểm tiếp nhận hồ sơ hành chính, trường học, nhà ga, bến xe.
Trong từng công trình, ưu tiên lối vào và tầng trệt: đưa dịch vụ cần thiết xuống tầng một nếu chưa có thang máy, làm đường dốc ở cửa chính, cải tạo một nhà vệ sinh tiếp cận. Những thay đổi này chi phí không lớn nhưng mở được phần lớn dịch vụ cho người khó đi lại.
Khi có dự án cải tạo, sửa chữa lớn công trình công cộng, yêu cầu tiếp cận nên được đưa vào ngay từ thiết kế, vì làm cùng lúc rẻ hơn nhiều so với sửa riêng sau này. Đây là điều người dân có thể hỏi khi địa phương công bố dự án cải tạo trụ sở, trường, trạm y tế.
Câu hỏi thường gặp
Công trình nào bắt buộc phải bảo đảm người khuyết tật tiếp cận?
Theo Luật Người khuyết tật 2010 và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia liên quan, các công trình công cộng như trụ sở cơ quan nhà nước, cơ sở y tế, giáo dục, văn hoá, thể thao, nhà ga, bến xe, chung cư phải bảo đảm điều kiện tiếp cận khi xây mới, cải tạo. Phạm vi cụ thể tra văn bản hiện hành.
Đường dốc cho xe lăn cần dốc bao nhiêu?
Độ dốc tối đa, chiều rộng, chiếu nghỉ, tay vịn của đường dốc được quy định trong quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về công trình bảo đảm người khuyết tật tiếp cận. Nguyên tắc chung là dốc đủ thoải để người đi xe lăn tự lên được; dốc quá đứng là lỗi phổ biến nhất.
Nhà vệ sinh cho người khuyết tật bị khoá thì làm gì?
Hỏi đơn vị quản lý công trình về lý do và đề nghị mở cho người cần dùng. Nếu tình trạng kéo dài, phản ánh với cơ quan quản lý cấp trên hoặc chính quyền xã, phường. Nhà vệ sinh tiếp cận chỉ có ý nghĩa khi được mở và giữ sạch trong giờ công trình hoạt động.
Dải dẫn hướng cho người khiếm thị có tác dụng gì?
Dải gạch có gờ nổi giúp người khiếm thị đi theo bằng gậy hoặc bàn chân, nhận biết hướng đi, điểm rẽ, điểm dừng và vùng nguy hiểm như mép bậc, mép ke ga. Dải chỉ có tác dụng khi liên tục, không bị vật cản, và dẫn tới đúng nơi cần tới.
Người cao tuổi có được hưởng lợi từ hạ tầng tiếp cận không?
Có, rất nhiều. Lối đi bằng phẳng, đường dốc, tay vịn, thang máy, nhà vệ sinh có tay vịn, ghế ngồi chờ giúp người cao tuổi đi lại an toàn, giảm nguy cơ té ngã. Luật Người cao tuổi 2009 cũng đề cập việc tạo điều kiện cho người cao tuổi tham gia hoạt động xã hội.
Góp ý về hạ tầng tiếp cận ở đâu thì hiệu quả?
Gửi trực tiếp cho đơn vị quản lý công trình, kèm ảnh và vị trí cụ thể; đồng thời gửi chính quyền xã, phường hoặc qua hội người khuyết tật, hội người cao tuổi địa phương. Khi địa phương lấy ý kiến về dự án cải tạo công trình công, đó là thời điểm tốt nhất để đề nghị.