Theo Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 2006 (sửa đổi năm 2014), cảng hàng không là khu vực gồm sân bay, nhà ga và các công trình, trang thiết bị phục vụ; cảng hàng không quốc tế phục vụ cả chuyến bay quốc tế và nội địa, nên có thêm khu kiểm soát xuất nhập cảnh, hải quan, kiểm dịch, còn cảng hàng không nội địa chỉ phục vụ chuyến bay trong nước. Khác biệt về hạ tầng giữa hai loại không chỉ nằm ở nhà ga mà còn ở đường băng, sân đỗ và hệ thống phục vụ bay.
Bài viết giải thích sân bay và cảng hàng không khác nhau thế nào, một cảng hàng không gồm những hạ tầng gì, vì sao có nơi đón được máy bay thân rộng có nơi không, sân bay lưỡng dụng là gì, và những ràng buộc về tĩnh không, tiếng ồn với khu dân cư quanh sân bay. Bài không đánh giá cảng hàng không cụ thể nào.
Sân bay và cảng hàng không: hai chữ không giống nhau
Trong đời thường, người ta gọi chung là sân bay. Trong văn bản pháp luật và quy hoạch, sân bay là phần khu vực được dùng cho tàu bay cất cánh, hạ cánh và di chuyển: đường cất hạ cánh, đường lăn, sân đỗ. Cảng hàng không là khái niệm rộng hơn, gồm sân bay cộng với nhà ga hành khách, nhà ga hàng hoá, đài kiểm soát, các công trình kỹ thuật, khu dịch vụ, đường giao thông nội cảng.
Sự phân biệt này có ý nghĩa thực tế. Một dự án nâng cấp có thể chỉ làm đường băng, tức hạng mục sân bay, mà không đụng tới nhà ga; hoặc ngược lại, chỉ làm nhà ga mới trong khi đường băng giữ nguyên. Nguồn vốn và chủ đầu tư hai hạng mục này có thể khác nhau: các công trình khu bay thường do Nhà nước đầu tư hoặc quản lý, nhà ga thường do doanh nghiệp cảng hàng không đầu tư và khai thác.
Khi đọc tin một sân bay được nâng cấp, bạn nên xem rõ hạng mục nào được nâng cấp. Đường băng dài hơn cho phép máy bay lớn hơn; nhà ga rộng hơn cho phép nhiều khách hơn mỗi giờ. Hai thứ đều cần, nhưng một mình cái nào cũng không giải quyết hết.
Cảng hàng không quốc tế và nội địa khác nhau ở đâu
So sánh theo nguyên lý; quy mô cụ thể của từng cảng do quy hoạch và quyết định đầu tư xác định.
| Hạng mục | Cảng hàng không quốc tế | Cảng hàng không nội địa |
|---|---|---|
| Chuyến bay phục vụ | Quốc tế và nội địa | Chỉ trong nước |
| Nhà ga hành khách | Có khu quốc tế riêng với luồng đi, đến tách khỏi nội địa | Một luồng nội địa |
| Kiểm soát nhà nước | Xuất nhập cảnh, hải quan, kiểm dịch y tế, động thực vật | Kiểm soát an ninh hàng không |
| Đường cất hạ cánh | Thường dài, rộng, đủ cho máy bay thân rộng đường dài | Tuỳ quy mô, nhiều nơi chỉ cho máy bay thân hẹp |
| Nhà ga hàng hoá | Thường có, phục vụ hàng xuất nhập khẩu | Có thể có quy mô nhỏ hoặc dùng chung |
| Dịch vụ | Khu miễn thuế, phòng chờ quốc tế | Dịch vụ nội địa |
Một cảng hàng không nội địa có thể được nâng lên quốc tế khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép và bổ sung hạ tầng kiểm soát. Ngược lại, có cảng quốc tế chỉ có ít chuyến bay quốc tế, phần lớn hoạt động vẫn là nội địa.
Vì vậy, nhãn quốc tế không tự động nghĩa là có đường bay thẳng tới thị trường bạn quan tâm. Doanh nghiệp nên xem lịch bay thực tế theo mùa, không chỉ tên gọi của cảng.
Khu bay gồm những gì
Đường cất hạ cánh. Dải mặt đường dài nơi máy bay cất và hạ cánh. Chiều dài, bề rộng, sức chịu tải của mặt đường quyết định loại máy bay khai thác được. Hai đầu có khu an toàn để giảm hậu quả khi máy bay chạy quá đà.
Đường lăn. Đường nối đường cất hạ cánh với sân đỗ. Có đường lăn song song và lối thoát nhanh giúp máy bay rời đường băng sớm, tăng số lượt cất hạ cánh mỗi giờ.
Sân đỗ. Nơi máy bay đỗ để đón trả khách, bốc dỡ hàng, tiếp nhiên liệu. Thiếu sân đỗ thì dù đường băng còn công suất, cảng vẫn không nhận thêm chuyến.
Hệ thống đèn và dẫn đường. Đèn tiếp cận, đèn tim và lề đường băng, thiết bị hỗ trợ hạ cánh giúp máy bay hạ cánh trong điều kiện tầm nhìn kém. Mức trang bị quyết định sân bay khai thác được trong thời tiết xấu tới đâu.
Đài kiểm soát và cơ sở quản lý bay. Điều hành máy bay trên mặt đất và trong vùng trời lân cận sân bay.
Cứu hoả, cứu nạn. Lực lượng và phương tiện thường trực, có yêu cầu thời gian tiếp cận theo cấp sân bay.
Vì sao có sân bay đón được máy bay thân rộng, có nơi không
Máy bay thân rộng chở nhiều khách, bay đường dài, nặng hơn nhiều so với máy bay thân hẹp. Chúng cần đường băng dài hơn để cất cánh khi đầy tải, mặt đường dày và chịu tải cao hơn, đường lăn và sân đỗ rộng hơn, cầu ống lồng và thiết bị phục vụ phù hợp. Tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế dùng mã tham chiếu sân bay để mô tả loại máy bay lớn nhất mà sân bay được thiết kế phục vụ.
Chiều dài đường băng cần thiết còn phụ thuộc điều kiện địa phương: nhiệt độ cao làm không khí loãng, máy bay cần chạy đà dài hơn; sân bay ở cao nguyên cũng vậy. Vì thế, cùng một loại máy bay, có sân bay cất cánh đầy tải được, có sân bay phải giảm tải.
Nâng một sân bay từ phục vụ máy bay thân hẹp lên thân rộng không chỉ là kéo dài đường băng. Phải xem cả quỹ đất hai đầu, tĩnh không, đường lăn, sân đỗ, nhà ga, và nhu cầu thị trường có đủ để hãng hàng không đưa máy bay lớn tới hay không.
Sân bay lưỡng dụng
Ở Việt Nam, nhiều sân bay vừa phục vụ hàng không dân dụng vừa phục vụ quân sự, gọi là sân bay dùng chung hay lưỡng dụng. Trong các sân bay này, một số hạng mục như đường cất hạ cánh có thể dùng chung, còn khu dân dụng và khu quân sự được phân định rõ.
Điều này ảnh hưởng tới quy hoạch và đầu tư. Việc mở rộng đường băng, thay đổi khu bay ở sân bay lưỡng dụng cần sự phối hợp giữa cơ quan quản lý hàng không dân dụng và lực lượng quân sự. Quỹ đất quanh sân bay cũng có thể thuộc nhiều đơn vị quản lý.
Với người dân và doanh nghiệp, sân bay lưỡng dụng có thể có thêm những giới hạn về khu vực cấm, chiều cao công trình, hoạt động bay không người lái. Khi đầu tư gần các sân bay này, nên hỏi kỹ cơ quan có thẩm quyền về các giới hạn đó.
Sân bay lưỡng dụng cũng có lợi thế: hạ tầng khu bay đã có sẵn, nhiều nơi được nâng cấp phục vụ dân dụng nhanh hơn so với xây mới hoàn toàn. Nhiều cảng hàng không địa phương ở Việt Nam phát triển từ sân bay quân sự cũ theo cách này.
Ai đầu tư và khai thác một cảng hàng không
Một cảng hàng không có nhiều chủ thể cùng làm việc. Các công trình khu bay như đường cất hạ cánh, đường lăn thường thuộc tài sản nhà nước, được đầu tư bằng vốn đầu tư công hoặc giao cho doanh nghiệp quản lý, khai thác theo quy định. Nhà ga hành khách, nhà ga hàng hoá, sân đỗ có thể do doanh nghiệp cảng hàng không đầu tư; một số hạng mục được mở cho nhà đầu tư khác theo hình thức xã hội hoá hoặc đối tác công tư.
Bên cạnh đó là các đơn vị cung cấp dịch vụ: quản lý bay, phục vụ mặt đất, nhiên liệu, suất ăn, an ninh, cùng các cơ quan nhà nước làm nhiệm vụ tại cảng như cảng vụ hàng không, hải quan, công an cửa khẩu, kiểm dịch. Một chuyến bay đúng giờ là kết quả phối hợp của tất cả các bên này.
Với nhà đầu tư ở địa phương, hiểu cấu trúc này giúp biết đề xuất của mình đi tới đâu. Muốn có thêm đường bay quốc tế, cần hãng hàng không thấy đủ nhu cầu; muốn nhà ga lớn hơn, cần doanh nghiệp cảng và quy hoạch; muốn đường băng dài hơn, cần vốn và quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Địa phương thường đóng vai trò hỗ trợ mặt bằng, đường kết nối và kích cầu du lịch, thương mại.
Tĩnh không và tiếng ồn: sân bay và khu dân cư xung quanh
Quanh mỗi sân bay có các bề mặt giới hạn chướng ngại vật, gọi chung là tĩnh không: những mặt phẳng tưởng tượng mà nhà cao tầng, cột ăng-ten, ống khói, cần cẩu không được vượt lên, để bảo đảm an toàn cho máy bay cất hạ cánh. Ở hướng tiếp cận đường băng, giới hạn chiều cao chặt hơn nhiều so với các hướng khác.
Với doanh nghiệp đặt nhà máy gần sân bay, tĩnh không có thể giới hạn chiều cao nhà xưởng, ống khói, tháp, và cần được thoả thuận với cơ quan quản lý hàng không trước khi xây. Với dự án nhà ở, giới hạn này ảnh hưởng tới số tầng có thể xây.
Tiếng ồn là vấn đề thứ hai. Khu vực dưới hướng cất hạ cánh chịu tiếng ồn lớn, nhất là khi có chuyến bay đêm. Quy hoạch đất quanh sân bay thường hạn chế xây nhà ở, trường học, bệnh viện trong vùng ồn cao, ưu tiên khu logistics, công nghiệp, dịch vụ hàng không. Khi sân bay nằm giữa đô thị đã dày đặc, những xung đột này rất khó giải quyết và là một lý do để xây cảng hàng không mới ở xa trung tâm.
Câu hỏi thường gặp
Cảng hàng không và sân bay khác nhau thế nào?
Sân bay là khu vực cho máy bay cất hạ cánh và di chuyển: đường băng, đường lăn, sân đỗ. Cảng hàng không rộng hơn, gồm sân bay cộng nhà ga hành khách, nhà ga hàng hoá, các công trình kỹ thuật và dịch vụ. Trong đời thường, hai chữ thường được dùng lẫn.
Cảng hàng không nội địa có thể có chuyến bay quốc tế không?
Muốn khai thác thường xuyên chuyến bay quốc tế, cảng phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép và có hạ tầng kiểm soát xuất nhập cảnh, hải quan, kiểm dịch. Một số trường hợp đặc biệt có thể được phép khai thác theo chuyến, theo quy định hiện hành.
Vì sao sân bay ở vùng nóng cần đường băng dài hơn?
Vì không khí nóng loãng hơn, cánh máy bay tạo lực nâng kém hơn và động cơ cho lực đẩy thấp hơn, nên máy bay cần chạy đà dài hơn để đạt tốc độ cất cánh. Sân bay ở độ cao lớn cũng gặp hiện tượng tương tự.
Xây nhà xưởng gần sân bay cần lưu ý gì?
Cần kiểm tra giới hạn tĩnh không tại vị trí xây dựng, đặc biệt ở hướng tiếp cận đường băng, và có thể phải được cơ quan quản lý hàng không chấp thuận chiều cao công trình. Ngoài ra nên xem quy hoạch đất quanh sân bay và quy định về vùng ồn.
Sân bay lưỡng dụng là gì?
Là sân bay dùng chung cho hàng không dân dụng và quân sự. Một số hạng mục như đường cất hạ cánh có thể dùng chung, khu dân dụng và khu quân sự được phân định riêng. Việc mở rộng, thay đổi khu bay cần phối hợp giữa các bên quản lý.
Nâng cấp đường băng có làm tăng số chuyến bay không?
Chưa chắc. Số chuyến còn phụ thuộc sân đỗ, đường lăn, nhà ga, quản lý bay và nhu cầu của hãng hàng không. Đường băng mới thường giúp đón máy bay lớn hơn hoặc khai thác trong điều kiện thời tiết xấu tốt hơn, còn công suất tổng phụ thuộc cả hệ thống.