Chi phí vòng đời của một công trình hạ tầng là tổng mọi khoản phải chi từ lúc xây tới lúc thay thế: tiền đầu tư ban đầu, tiền vận hành hằng ngày, tiền bảo trì định kỳ, tiền sửa chữa lớn và cuối cùng là tiền phá dỡ, thay mới. Với những công trình dùng vài chục năm như cầu, đường, nhà máy nước, phần chi sau khi khánh thành cộng dồn lại thường lớn hơn phần chi để xây, dù nó rải ra theo năm nên ít ai nhìn thấy.
Hiểu chi phí vòng đời giúp bạn đọc đúng một dự án "rẻ" hay "đắt", hiểu vì sao kỹ sư hay đề nghị phương án tốn hơn lúc đầu, và vì sao một công trình không có tiền bảo trì sẽ xuống cấp nhanh. Các con số trong bài là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính.
Chi phí vòng đời gồm những khoản nào
Khoản đầu tiên và dễ thấy nhất là chi phí đầu tư: khảo sát, thiết kế, giải phóng mặt bằng, xây dựng, thiết bị, quản lý dự án. Đây là con số được công bố khi phê duyệt dự án và là con số người ta hay so sánh. Nhưng đó mới là phần mở màn.
Khoản thứ hai là chi phí vận hành: điện cho trạm bơm, hoá chất cho nhà máy nước, lương người trực trạm thu phí, người điều độ lưới điện, chi phí chiếu sáng, chi phí quản lý. Khoản này đều đặn mỗi năm và tăng theo giá cả. Khoản thứ ba là bảo trì: kiểm tra định kỳ, vệ sinh, thay chi tiết nhỏ, trám vết nứt, nạo vét cống. Khoản thứ tư là sửa chữa lớn, xảy ra theo chu kỳ dài hơn: thảm lại toàn bộ mặt đường, thay gối cầu, thay bơm, thay đường ống đã mục.
Khoản cuối cùng là chi phí khi công trình hết đời: phá dỡ, xử lý vật liệu, thay thế bằng công trình mới. Cộng các khoản này, rồi quy về cùng một thời điểm bằng cách chiết khấu theo thời gian, ta có chi phí vòng đời. Hai phương án có tổng mức đầu tư khác nhau có thể đảo ngược thứ tự khi nhìn bằng chi phí vòng đời.
Mỗi bộ phận có một tuổi thọ khác nhau
Một công trình không già đều. Bảng dưới mô tả theo nguyên lý mức tuổi thọ tương đối của các bộ phận; số năm cụ thể phụ thuộc thiết kế, vật liệu, tải trọng và khí hậu, được quy định trong hồ sơ thiết kế và quy trình bảo trì của từng công trình.
| Công trình | Bộ phận tuổi thọ dài | Bộ phận tuổi thọ ngắn hơn | Việc định kỳ điển hình |
|---|---|---|---|
| Đường bộ | Nền đường, lớp móng | Lớp mặt bê tông nhựa, vạch sơn, hộ lan | Trám vá, thảm lại lớp mặt |
| Cầu | Kết cấu chính: trụ, dầm | Khe co giãn, gối cầu, lớp phủ mặt cầu, lan can | Kiểm tra định kỳ, thay khe, sơn chống gỉ |
| Cấp nước | Bể chứa, đường ống chính tốt | Bơm, van, đồng hồ, thiết bị đo | Thay thiết bị, dò và sửa rò rỉ |
| Thoát nước | Cống hộp bê tông, kênh | Nắp hố ga, cửa phai, bơm trạm | Nạo vét, thay nắp, bảo dưỡng bơm |
| Lưới điện | Móng cột, cột thép | Máy biến áp, thiết bị đóng cắt, cáp | Bảo dưỡng, thí nghiệm định kỳ |
| Trường học, trạm y tế | Kết cấu khung, móng | Mái, chống thấm, điện nước trong nhà, thiết bị | Sửa mái, chống thấm, thay thiết bị |
Điều đáng chú ý là các bộ phận tuổi thọ ngắn thường cũng là bộ phận bảo vệ cho bộ phận tuổi thọ dài. Lớp mặt đường giữ cho nước không thấm xuống móng; lớp sơn bảo vệ thép cầu khỏi gỉ. Bỏ bê bộ phận ngắn hạn là để hư hỏng lan sang bộ phận dài hạn, lúc đó chi phí sửa lớn hơn rất nhiều.
Ví dụ giả định: cộng chi phí vòng đời của một con đường tỉnh
Ví dụ giả định: một đoạn đường tỉnh có hai phương án. Phương án một dùng kết cấu mặt mỏng hơn, chi phí xây là 100 đơn vị, nhưng cần thảm lại sau mỗi khoảng thời gian ngắn và trám vá nhiều hơn mỗi năm. Phương án hai dùng lớp móng và mặt dày hơn, chi phí xây là 125 đơn vị, chu kỳ thảm lại dài gấp rưỡi, chi phí trám vá hằng năm thấp hơn.
Nếu chỉ nhìn tiền xây, phương án một rẻ hơn một phần tư. Nhưng cộng thêm hai lần thảm lại trong giai đoạn mà phương án hai chỉ cần một lần, cộng chi phí trám vá hằng năm cao hơn, rồi quy về hiện tại, tổng chi phí vòng đời của hai phương án có thể ngang nhau hoặc phương án hai còn rẻ hơn. Đó là chưa kể chi phí xã hội: mỗi lần thảm lại là một lần người đi đường bị phân luồng, xe tải phải đi vòng.
Ví dụ này không nói phương án nào luôn đúng. Nếu đường chỉ cần dùng tạm trong vài năm trước khi được nâng cấp thành tuyến lớn hơn, phương án rẻ lúc đầu có thể hợp lý. Điểm cần rút ra là so sánh phương án phải dựa trên cùng một khoảng thời gian và đủ các khoản, không chỉ dòng tổng mức đầu tư.
Khấu hao và hao mòn: cách sổ sách ghi nhận tuổi thọ
Với doanh nghiệp. Doanh nghiệp đầu tư hạ tầng như nhà máy nước, lưới điện, cao tốc thu phí trích khấu hao hằng năm theo chế độ kế toán, tức chia giá trị công trình ra theo số năm sử dụng và tính vào chi phí. Khấu hao là một phần quan trọng cấu thành giá nước, giá điện, mức phí.
Với tài sản công. Công trình do Nhà nước đầu tư được theo dõi hao mòn theo quy định về quản lý tài sản công. Hao mòn không tạo ra dòng tiền nhưng cho biết giá trị còn lại và giúp lập kế hoạch thay thế.
Tuổi thọ kế toán không phải tuổi thọ thật. Một cây cầu có thể đã hết khấu hao trên sổ sách mà vẫn dùng tốt nhờ bảo trì; ngược lại một con đường còn giá trị trên sổ có thể đã hư nặng vì quá tải. Khi đánh giá công trình, nhìn cả hai.
Khấu hao không có nghĩa là có tiền thay thế. Nếu khoản thu không đủ hoặc bị dùng vào việc khác, tới lúc thay thế vẫn thiếu vốn. Đây là lý do nhiều hệ thống cấp nước cũ có tỷ lệ rò rỉ cao: đường ống đã quá tuổi mà chưa có tiền thay.
Bảo trì phòng ngừa và sửa khi hỏng
Có hai cách quản lý một công trình. Cách thứ nhất là chờ hỏng mới sửa: không tốn tiền khi mọi thứ còn chạy, nhưng khi hỏng thì hỏng to, thường vào lúc bất lợi nhất như giữa mùa mưa hay lúc cao điểm. Cách thứ hai là bảo trì phòng ngừa: kiểm tra theo lịch, thay chi tiết trước khi chúng hỏng, theo dõi các chỉ số để phát hiện suy giảm sớm.
Luật Xây dựng 2014 (sửa đổi) và các văn bản hướng dẫn yêu cầu công trình xây dựng phải có quy trình bảo trì do nhà thầu thiết kế hoặc nhà cung cấp thiết bị lập, được chủ đầu tư phê duyệt, và chủ sở hữu, người quản lý sử dụng phải tổ chức bảo trì theo quy trình đó. Trên giấy, mọi công trình đều có kế hoạch bảo trì; trong thực tế, mức thực hiện phụ thuộc vào kinh phí và năng lực đơn vị quản lý.
Bảo trì phòng ngừa ngày càng dùng nhiều dữ liệu: cảm biến đo rung trên cầu, đồng hồ đo áp lực theo vùng để phát hiện rò rỉ ống nước, xe khảo sát mặt đường ghi lại vết nứt. Dữ liệu giúp dồn tiền bảo trì vào đúng chỗ đang xuống cấp nhanh nhất thay vì chia đều.
Thiết kế rẻ lúc đầu, đắt về sau: những trường hợp hay gặp
Một số lựa chọn thiết kế làm giảm tiền xây nhưng đẩy chi phí sang giai đoạn vận hành. Khi đọc một dự án, những dấu hiệu sau đáng hỏi thêm:
- Cống thoát nước tiết diện vừa đủ cho hiện tại, không tính tới khu dân cư sẽ mọc thêm phía thượng nguồn; vài năm sau quá tải, phải đào lên làm lại.
- Đường làm sát cao độ ngập mà không nâng nền; mỗi mùa lũ mặt đường bị ngâm, xuống cấp nhanh.
- Không chừa hạ tầng ngầm cho cáp; sau này mỗi đơn vị lại đào riêng một lần.
- Chọn thiết bị bơm, van rẻ khó tìm phụ tùng thay thế; khi hỏng phải thay cả cụm.
- Trường học, trạm y tế xây xong nhưng không tính chi phí vận hành, thiếu người, thiếu thiết bị, công trình đứng không.
- Không tính chỗ cho mở rộng: trạm biến áp đặt vừa khít, đường không có dải đất dự trữ để thêm làn.
Không phải lúc nào chọn phương án đắt cũng đúng. Nhưng một dự án có giải trình về chi phí vòng đời, có tính tới nhu cầu tương lai, thường đáng tin hơn một dự án chỉ khoe tổng mức đầu tư thấp.
Đọc một dự án hạ tầng bằng con mắt chi phí vòng đời
Khi đọc tin hoặc tham dự một buổi lấy ý kiến về dự án hạ tầng gần nơi bạn sống, có thể đặt các câu hỏi theo thứ tự sau:
- Công trình được thiết kế để dùng trong bao lâu, và bộ phận nào cần thay sớm nhất?
- Sau khi bàn giao, ai chịu trách nhiệm vận hành, bảo trì, và tiền lấy từ đâu: ngân sách, giá dịch vụ hay phí?
- Dự án có quy trình bảo trì được phê duyệt chưa, có công khai các mốc kiểm tra định kỳ không?
- Phương án được chọn có so sánh chi phí vòng đời với phương án khác không, hay chỉ so tiền xây?
- Nhu cầu tăng thêm trong tương lai đã được tính tới chưa: dân số, lưu lượng xe, tải điện, lượng nước thải?
- Khi công trình hết tuổi thọ, phương án thay thế, mở rộng đã được chừa đất, chừa chỗ chưa?
Không phải câu nào cũng có câu trả lời ngay, nhưng đặt câu hỏi giúp những người lập dự án nhớ rằng cộng đồng quan tâm tới cả giai đoạn sau khánh thành.
Câu hỏi thường gặp
Chi phí vòng đời khác tổng mức đầu tư thế nào?
Tổng mức đầu tư chỉ gồm chi phí để xây dựng và đưa công trình vào sử dụng. Chi phí vòng đời cộng thêm chi phí vận hành, bảo trì, sửa chữa lớn và thay thế trong suốt thời gian công trình được dùng, quy về cùng một thời điểm để so sánh các phương án cho công bằng.
Vì sao đường mới làm vài năm đã hỏng?
Có thể do nhiều nguyên nhân: thiết kế không tính đủ tải trọng xe thực tế, xe quá tải chạy nhiều, thi công không đạt chất lượng, thoát nước kém làm nước ngấm xuống móng, hoặc thiếu bảo trì những hư hỏng nhỏ ban đầu. Cần kiểm định mới xác định được nguyên nhân cụ thể.
Công trình nào cũng phải có quy trình bảo trì sao?
Theo pháp luật về xây dựng, công trình xây dựng phải có quy trình bảo trì được lập và phê duyệt, trừ một số trường hợp được miễn theo quy định. Chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng có trách nhiệm tổ chức bảo trì theo quy trình đó. Tra văn bản hướng dẫn hiện hành để biết chi tiết.
Hết khấu hao thì công trình phải phá bỏ không?
Không. Khấu hao và hao mòn là cách ghi nhận giá trị trên sổ sách. Công trình còn an toàn, còn đáp ứng nhu cầu thì vẫn được dùng tiếp, có thể sau khi kiểm định và sửa chữa. Việc dừng sử dụng phụ thuộc kết quả kiểm định chất lượng, không phụ thuộc số năm khấu hao.
Bảo trì phòng ngừa có tốn hơn sửa khi hỏng không?
Trong ngắn hạn, bảo trì phòng ngừa tốn tiền đều đặn trong khi sửa khi hỏng có thể không tốn gì nhiều năm. Nhưng với công trình dùng lâu dài, hư hỏng để lan rộng thường tốn kém hơn nhiều, kèm theo thiệt hại do gián đoạn. Vì vậy các đơn vị quản lý lớn thường chọn bảo trì theo kế hoạch.
Người dân có thể biết kế hoạch bảo trì của một công trình không?
Một số thông tin như kế hoạch duy tu đường, lịch nạo vét cống, lịch cắt điện bảo dưỡng thường được công bố qua kênh của địa phương hoặc doanh nghiệp. Với chi tiết hơn, bạn có thể đề nghị xã, phường hoặc đơn vị quản lý cung cấp theo quy định về tiếp cận thông tin.